Đăng Nhập   15 Tháng Ba 2010
 
Văn bản pháp quy In Ấn  
TG
Giới thiệu sách
TG
Số lượt truy cập

18283

Tin đào tạo
TG
Nghiên cứu KH
TG
Lý lịch khoa học
TG
Tài liệu tham khảo
TG
TG
Liên kết
 
Hội thảo khoa học Khoa Quản lí giáo dục In Ấn  

 

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
----------------
 
 
Hà Nội,ngày 23 tháng 2  năm 2010
 THÔNG BÁO
VỀ VIỆC TỔ CHỨC HỘI THẢO KHOA HỌC
ĐÀO TẠO CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TRONG XU THẾ HỘI NHẬP QUỐC TẾ”
                          Đào tạo cán bộ quản lý giáo dục là con đường để nâng cao chất lượng nguồn lực trong giáo dục từ đó nâng cao chất lượng giáo dục cho đất nước. Đặc biệt trong xu thế hội nhập và phát triển xã hội hiện nay thì tiếp cận đào tạo cán bộ quản lý giáo dục hội nhập với khu vực và quốc tế là vấn đề then chốt  cần phải được đặt ra ở các cơ sở đào tạo cán bộ quản lý giáo dục .
 Để có các giải pháp tích cực nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ quản lý giáo dục Khoa Quản lý giáo dục - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội có kế hoạch tổ chức Hội thảo khoa học về “Đào tạo cán bộ quản lý giáo dục trong xu thế hội nhập quốc tế ” nhằm tập hợp đội ngũ những người làm công tác giáo dục và đào tạo để cùng cộng tác trong việc nghiên cứu, giải quyết các vấn đề đang đặt ra của thực tiễn đào tạo cán bộ quản lý cho ngành giáo dục.
 
Nội dung chính của Hội thảo
1.     Mô hình người cán bộ quản lý giáo dục trong xu thế hội nhập quốc tế.
2.     Đổi mới công tác lãnh đạo và quản lý trường học trong xu thế hội nhập quốc tế.
3.     Chương trình đào tạo cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
4.     Thực trạng và mức độ đáp ứng của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
5.     Nhận diện mô hình sử dụng nguồn cán bộ quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
6.     Những thuận lợi và khó khăn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục trong xu thế hội nhập quốc tế.
7.     Nâng cao năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo cán bộ quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
8.     Thực trạng công tác đào tạo cán bộ quản lý giáo dục ở các cơ sở giáo dục hiện nay.
9.     Đề xuất các giải pháp tổ chức đào tạo cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
 Thời gian và địa điểm tổ chức
Thời gian dự kiến: 01 ngày vào cuối tháng 4 năm 2010.
Địa điểm: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 136 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội
Khoa Quản lý giáo dục - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trân trọng kính mời các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nghiên cứu sinh viết báo cáo tham luận cho Hội thảo theo nội dung trên.
·                   Bài viết, tham luận không quá 3000 từ, kiểu chữ Times New Roman, cỡ chữ 13 thống nhất toàn bài, in trên khổ giấy A4, ghi rõ họ tên, học hàm, học vị, địa chỉ công tác, điện thoại của tác giả.
·                   Bài viết gửi về cho Ban tổ chức trước ngày 05 tháng 04 năm 2010 theo các địa chỉ sau (gửi file đính kèm):
PGS. TS. Nguyễn Xuân Thức
Khoa Quản lý giáo dục– Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
136 đường Xuân Thủy, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
ĐT: 04-37549310 , ĐTDĐ: 0913058038
E-mail: k.qlgd@hnue.edu.vn hoặc vananh@hnue.edu.vn
 
          Ban Tổ chức rất mong nhận được sự tham gia của các đại biểu và sẽ gửi giấy mời đến đại biểu trước khi tổ chức Hội thảo.
          Trân trọng cảm ơn.
 

Nơi nhận:
             - Viện Khoa học GD VN, Viện Tâm lý học
             - Học viện QLGD
             - Sở GD & ĐT
             - Các cơ sở bồi dưỡng, đào tạo CBQLGD
            - Các đại biểu ............
TRƯỞNG KHOA
PGS.TS. Bùi Minh Hiền
                                                                                    

 
 
 
Sứ mệnh
                             
      
          Khoa Quản lý giáo dục phấn đấu trở thành một trong những cơ sở hàng đầu của Việt Nam đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng cao, đồng thời là một trung tâm nghiên cứu phát triển khoa học quản lý giáo dục, thông tin, cung cấp các dịch vụ quản lý giáo dục đáp ứng một cách có hiệu quả yêu cầu đổi mới, phát triển sự nghiệp giáo dục, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng xã hội học tập phù hợp với truyền thống giáo dục Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.
Chức năng

        1. Đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ lãnh đạo giáo dục cho các ngành học, cấp học, bậc học ở các trình độ cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ.

          2. Cung cấp các chương trình bồi dưỡng lấy chứng chỉ, các chương trình bồi dưỡng theo chuyên đề, theo nhu cầu của người học để nâng cao trình độ và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ quản lý và lãnh đạo các cấp.

           3. Triển khai nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục, thực hiện các nghiên cứu lý luận, thực tiễn trong nước và quốc tế nhằm ứng dụng vào giảng dạy và đổi mới công tác quản lý giáo dục của ngành.

          4. Thông tin nhằm phổ biến, trao đổi tri thức khoa học quản lý giáo dục, tổ chức các hội thảo khoa học giúp cho cán bộ quản lý và cán bộ lãnh đạo giáo dục thường xuyên cập nhật tri thức.
 
          5 Hợp tác đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học về quản lý giáo dục với các tổ chức, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu trong và ngoài nước.
         
         6. Tham mưu cho Bộ Giáo dục và Đào tạo về chiến lược phát triển và các chính sách về quản lý lãnh đạo giáo dục.
         
          7. Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy của khoa.
Hành trang nhà quản lý, lãnh đạo In Ấn  
Phụ nữ và Lãnh đạo: Nghệ thuật cân bằng tinh tế

Giữa nam và nữ lãnh đạo có một số sự khác biệt đặc thù trong cách ứng xử. Trong bài viết này, Tiến sĩ Hilary M. Lips - thuộc trường Đại học Radford phác thảo những sự khác biệt này, xác định các cách thức ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của phụ nữ, và đề xuất một số giải pháp để tạo ra con đường dễ dàng hơn cho các nhà nữ lãnh đạo.


Nước Mỹ gần đây đã tiến một bước khá xa trên con đường lựa chọn người phụ nữ đầu tiên tranh cử tổng thổng. Tuy nhiên, trong buổi diễn văn vận động bầu cử của bà Hillary Clinton, thật phi lý khi mọi người tập trung một cách khác thường đến bộ cánh “cổ trễ” mà bà mặc khi đọc diễn văn tại tầng một tòa nhà dành cho Thượng nghị sĩ. Cũng tương tự như những cách tiếp cận truyền thống, chiến dịch của bà là tạo một ấn tượng giới thiệu tính “dễ gần và ấm áp” để cân bằng với “sự mạnh mẽ và từng trải” dường như đặc biệt cần thiết cho một nữ ứng cử viên.

Có vẻ như kịch bản chung cho những người phụ nữ có quyền lực chính trị bị quan sát quá khắt khe và họ dễ sảy chân vi phạm kịch bản đó – khi bị nói rằng quá hung hăng, hay quá nhẹ nhàng, quá mạnh mẽ hay quá dễ dãi, không hấp dẫn chút nào hoặc vẻ ngoài quá hấp dẫn. Có vẻ như những nhà lãnh đạo nữ giới sẽ dễ dàng vi phạm những hệ thống hạn hẹp dành cho họ khi chức phận nữ giới theo văn hóa thường ngày cần ăn khớp với vai trò lãnh đạo.

Khi những nhà lãnh đạo nữ giới phải đối đầu với hai hệ thức trái ngược nhau này, họ liên tục bị đặt ra những tiêu chuẩn cao hơn đối với những đồng nghiệp nam giới. Đối với nữ lãnh đạo, để họ có thể làm việc hiệu quả trong vị trí đó, cả nữ giới và nam giới cần nhận thức được những kì vọng khác nhau này, nhận biết các phương thức có thể gây ảnh hưởng đến cả người lãnh đạo và cấp dưới, từ đó hành động một cách đúng đắn.

Phản ứng khác nhau với lãnh đạo là phụ nữ hay nam giới

Quyền lực vận hành như là một hệ thống xã hội, kết thành từ vô số những hành vi được duy trì trong hệ thống văn hóa có ảnh hưởng nhất trong xã hội đó. Những hành vi lặp lại này duy trì hệ thống quyền lực bao gồm cả chuẩn mực giao tiếp, sự hiểu biết về những giá trị chung về văn hóa, kì vọng, quy tắc tiêu chuẩn và vai trò cá nhân. Hệ thống xã hội này chuyển hóa theo kì vọng hay hành vi của bất kì một cá nhân riêng lẻ nào và có xu hướng hình thành quyết định, sự tương tác, và mối quan hệ xã hội giữa các cá thể để phù hợp với hệ thống. Những phản hồi với nữ lãnh đạo hay nam lãnh đạo được hình thành trong một hệ thống xã hội truyền thống vốn do nam giới thống trị.

Những nhà nghiên cứu đã xác định bốn cách thức chủ yếu mà những người xung quanh phản ứng khác nhau với nữ lãnh đạo hay nam lãnh đạo. Những sự phản ứng khác nhau này có vẻ như không xuất phát từ phong cách lãnh đạo khác nhau của hai giới, mà do những động cơ thúc đẩy khác nhau dành cho hai giới. Nữ lãnh đạo thường nhận những phản ứng khác với nam lãnh đạo, bởi những kì vọng đã được định hình từ trước, được hình thành và tán đồng bởi hệ thống xã hội xung quanh, sẽ vô hiệu hóa và phủ nhận những cố gắng của phụ nữ để họ trở nên hiệu quả, quyền lực và có tầm ảnh hưởng.

Người ta kì vọng phụ nữ phải kết hợp khả năng lãnh đạo với sự quan tâm chăm sóc, và sẽ bị ghét nếu như phụ nữ không làm như vậy

Nhiều nhà nghiên cứu đã tìm ra từ lâu rằng mọi người nghĩ đến từ “nam giới” khi họ nghĩ đến “lãnh đạo”, và hệ quả này bắt nguồn từ rất nhiều sự phân biệt trong văn hóa. Do sự chênh trong nhận thức về tiêu chuẩn dành cho nữ giới và dành cho vai trò lãnh đạo, phụ nữ thường bị đòi hỏi phải biết mềm mỏng trong phong cách lãnh đạo để dành được sự ủng hộ của người khác. Phụ nữ không biết điều hòa tổ chức của mình với sự quan tâm, thân thiện và ấm áp thì họ có thể bị ghét bỏ và mất tầm ảnh hưởng; nam giới không cần thiết phải hòa nhã khi họ thực thi quyền lực.

Phụ nữ lãnh đạo với phong cách độc đoán sẽ là tâm điểm của những sự phản đối hơn là phụ nữ áp dụng phong cách dân chủ; đàn ông thì có thể chọn phong cách độc đoán mà không bị ảnh hưởng gì, nếu như họ là những nhà lãnh đạo hiệu quả. Trong một địa hạt rõ ràng dành cho nam giới, nếu phụ nữ thể hiện hay áp dụng phong cách lãnh đạo cứng rắn, họ sẽ không được ủng hộ.

Mọi người thường không nghe hay tuân theo hướng dẫn từ phụ nữ một cách thoải mái như từ nam giới

Mô hình cổ điển cho rằng phụ nữ nói nhiều hơn nam giới đã được chứng minh là sai lầm. Tuy nhiên mọi người vẫn cho rằng khả năng thuyết phục trôi chảy của phụ nữ chẳng chứng minh cho cái gì cả. Và phụ nữ thường cảm thấy họ không được lắng nghe, khi họ phát biểu trong cuộc họp hay những đề xuất của họ bị lờ đi hay bị coi nhẹ - trong khi những câu nói hay đề xuất tương tự như thế từ nam giới lại có ảnh hưởng hơn.

Nói có sách, mách có chứng. Hai nhà nghiên cứu đã thử nghiệm cho phụ nữ và đàn ông điều khiển một nhóm người độ tuổi trung niên bằng cách đưa ra những đề xuất, thậm chí từ ngữ giống nhau. Kết quả là các thành viên trong nhóm phản ứng với nam lãnh đạo với sự tập trung, những cái gật đầu và những nụ cười; họ phản ứng với nữ lãnh đạo là nhìn đi chỗ khác và ngáp ngắn ngáp dài. Hơn nữa, những thành viên trong các nhóm này không hề nhận thức ra rằng mình đang phân biệt đối xử với những người giữ vai trò lãnh đạo là nam giới hay nữ giới. Trường hợp này không chỉ xảy ra khi thí nghiệm, nó chính là đời thường: một nghiên cứu về các cuộc họp nhóm nhỏ trong các tổ chức chỉ ra rằng nữ lãnh đạo thường là mục tiêu của những cảm giác tiêu cực hơn là nam lãnh đạo, thậm chí khi cả hai nhà lãnh đạo đều được coi là có khả năng như nhau.

Phụ nữ tự ứng cử bản thân và thể hiện khả năng của họ chỉ nhận được sự bất đồng

Bởi họ bị nhìn nhận là ít khả năng hơn nam giới, những phụ nữ có thể trở thành lãnh đạo trong tương lai đôi khi được khuyên là phải tránh thể hiện sự khiêm tốn nữ tính và biết tự tiến cử bản thân, điểm mạnh và thành tích của mình. Tuy nhiên, tự tiến cử bản thân có thể rất nguy hiểm cho phụ nữ. Như đã nói ở trên, phụ nữ mà tự tin và mạnh mẽ hơn thông thường sẽ có nguy cơ không được tán thành.

Nghiên cứu cho thấy khi phụ nữ thể hiện những thành tựu của họ, người nghe sẽ thấy họ có khả năng hơn, nhưng cũng đồng nghĩa họ sẽ phải trả giá là không được ưa thích. Đàn ông tự giới thiệu thành tích của mình không phải đối mặt với thế lưỡng nan này: miễn là họ không nói đi nói lại, tự quảng bá bản thân sẽ làm họ được đánh giá là có khả năng và được ngưỡng mộ.

Hilary M. Lips - Tiến sỹ tại Trường Đại Học Radford
Ngọc Trâm biên dịch
(Còn nữa)

(Source: www.lanhdao.net )
Read on >>
  
  
  
  
  

Read on >>
  
  
  
  
   
 
 
Khoa Quản lý Giáo dục - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội